Luật về di chúc tại tiểu bang Nam Úc được chi phối bởi đạo luật Wills Act 1936. Làm di chúc là việc làm hoàn toàn tự nguyện chứ không bị bắt buộc. Mục đích của việc làm di chúc là để cho người thân của mình sau này hiểu rõ được những ý định sau cùng của mình để mà hành xử, phân chia tài sản theo đúng theo ý mình muốn. Có được một di chúc rõ ràng và đúng theo ý của mình sẽ giúp người thân của mình tránh được những tranh chấp không cần thiết sau này.
Xin thưa rằng điều này hoàn toàn không đúng. Nếu quý vị không may nằm xuống khi chưa có cơ hội làm di chúc thì người thân của quý vị sẽ là người đương nhiên được hưởng. Chính phủ không có quyền xâm phạm hay can thiệp đến tài sản của quý vị ngoại trừ một trường hợp duy nhất và khá hiếm hoi đó là khi nằm xuống, quý vị không còn bất cứ một người thân nào xung quanh, không có vợ/chồng, không có con cái, không có ba mẹ, không có anh chị em, không có bà con cô dì chú bác v.v…
Tùy theo quý vị đứng tên chung theo diện nào, nếu là trường hợp (i) không thể tách rời được (joint tenants) thì di chúc sẽ không có giá trị thay đổi tình trạng luật định theo ý của của luật joint tenancy chiếu theo đạo luật Real Property Act 1886. Điều này có nghĩa là nếu 2 vợ chồng đứng tên chung theo diện joint tenants, thì một trong 2 người sẽ không có quyền làm di chúc riêng để 50% của mình trên căn nhà đó lại cho một người khác chẳng hạn như con cái, cha mẹ hoặc anh chị em mình. Đây là điểm rất quan trọng mà quý vị cần lưu ý, nếu không sẽ vô tình tạo ra những cặm bẫy pháp luật rất tốn kém cho người thân của mình sau này. Đa số đồng hương chúng ta khi mua nhà, thường hay đứng chung tên theo diện (i) và có ý định rằng khi một người mất đi, người còn lại sẽ đương nhiên được hưởng trọn 100% căn nhà cho dù có hay không có di chúc. Tuy nhiên, nếu là trường hợp (ii) đứng chung, nhưng phần ai nấy giữ (tenants in common) thì một trong 2 vợ chồng có thể làm di chúc theo ý riêng của mình. Đứng chung theo diện này thì mỗi người có toàn quyền quyết định một cách độc lập, muốn làm gì với phần tài sản của mình cũng được. (Cũng cần lưu ý thêm rằng, trong trường hợp này, cho dù không có tên mình trong di chúc của vợ hoặc chồng, quý vị vẫn có quyền xin tòa án phân chia theo điều khoản số 6 của đạo luật thừa kết gia đình Inheritance (Family Provisions) Act 1972).
Ngoại trừ những trường hợp hết sức đặc biệt, di chúc quý vị làm sẽ không có khả năng chi phối về cách thức phân chia tiền hưu bổng của quý vị. Cách hay nhất để thay đổi hoặc thêm bớt người thừa hưởng tiền hưu bổng của mình là thông báo trực tiếp (qua fax hoặc thư bảo đảm hoặc email) với hãng hưu bổng và giử lại bằng chứng thông báo đó. Nếu quý vị làm di chúc thay đổi chi tiết về người thừa hưởng hưu bổng của mình mà không thông báo cho công ty hưu bổng thì phần thay đổi trong di chúc đó sẽ không có giá trị. Di chúc là luật tiểu bang (state law) trong khi đó luật hưu bổng thuộc phạm vi liên bang (federal law).
Điều Khoản 20 của đạo luật Wills Act 1936 quy định rằng những di chúc mà quý vị làm trước khi lập gia đình sẽ không có giá trị luật pháp sau này. Điều này cũng khá dễ hiểu, vì khi hoàn cảnh thay đổi, ý định lúc ban đầu của mình cũng thường thay đổi theo.
Điều Khoản 20A của đạo luật Wills Act 1936 quy định rằng những di chúc mà quý vị làm trước khi ly dị sẽ không có giá trị luật pháp. Do vậy quý vị cần phải thay đổi di chúc và thông báo với các hãng bảo hiểm/hưu bổng của mình mỗi khi hoàn cãnh hôn nhân của mình có thay đổi.
Quý vị có thể tự làm di chúc qua hình thức (i) viết tay, đánh máy; hoặc (ii) ra bưu điện mua một tập di chúc mẫu về điền. Tuy nhiên, nếu tự làm như vậy sẽ khó tránh những thiếu xót đáng tiếc mà hậu quả có thể sẽ rất nghiêm trọng và tốn kém. Nếu muốn có một di chúc hoàn hảo và đúng theo ý mình, quý vị nên tham khảo với luật sư của mình yêu cầu họ giải thích rõ ràng các điều khoản trong di chúc đó. Thảo một di chúc là một việc làm rất dễ dàng và ít tốn kém đối với một luật sư, tuy nhiên nếu có được một luật sư có kinh nghiệm kết hợp trong lãnh vực luật pháp (legal) và văn hóa (culture) thì quý vị sẽ cảm thấy an tâm và hài lòng hơn vì khác với các lãnh vực luật pháp thông thường, văn hóa Việt thường đóng một vai trò rất quan trọng trong việc soạn thảo một di chúc hoàn hảo và hợp lý.
Điều khoản số 8 của đạo luật Wills Act 1936 quy định rằng một di chúc chỉ có giá trị khi di chúc đó được viết rõ ràng và được ký bởi người làm di chúc (Testator) trước 2 nhân chứng (witness). Người làm di chúc phải hiểu rõ nội dung di chúc. Trong trường hợp, người làm di chúc không hiểu tiếng Anh, hoặc luật sư không có bằng cấp thông phiên dịch Anh Việt thì luật sư phải sắp xếp thông phiên dịch chuyên nghiệp để bảo đảm rằng thân chủ mình hiểu rõ những gì họ sắp ký. Chúng tôi được biết rằng một số hãng luật sư, vì một số lý do nào đó đã sử dụng những nhân viên văn phòng hoặc thư ký biết nói tiếng Việt của họ để thông dịch (interpreting) và phiên dịch (translating) các văn kiện luật pháp rất quan trọng chẳng hạn như di chúc trong khi những người này lại không có một bằng cấp thông hoặc phiên dịch nào được NAATI chấp nhận. Quý vị nên lưu ý điều này và suy nghĩ kỹ là có nên chấp nhận sự rũi ro này không. Trong những trường hợp như vậy, khi bà con của mình không hài lòng với cách thức chia phần trong di chúc của quý vị, họ (hoặc luật sư của họ) có thể tận dụng sự sơ hở trên để tiến hành thủ tục kiện tụng thách thức giá trị đích thực của di chúc (challenge the validity of the will) mà quý vị đã làm trong hoàn cảnh không có thông phiên dịch chuyên nghiệp như đã nêu trên.
Người điều hành di chúc (Executor/Trustee) là người được bổ nhiệm bởi người làm di chúc để thực thi những điều được ghi trong di chúc. Vai trò của người điều hành là tiến hành thủ tục gom góp tài sản của người làm di chúc, trả hết nợ nần và phân chia theo đúng tinh thần di chúc. Việc chọn người điều hành rất quan trọng. Quý vị nên ưu tiên vai trò này cho người mình hết sức tin tưởng chẳng hạn như vợ chồng, con cái, ba mẹ, anh chị em, bà con hoặc bàn bè thân thiết của mình.
Người thừa hưởng di chúc (beneficiary) được chọn bởi người làm di chúc. Những người thừa hưởng thường là những người thân trong gia đình. Qua kinh nghiệm làm việc, chúng tôi thường nhận thấy rằng, khác với các sắc tộc khác, người Việt mình thường làm di chúc để 100% lại cho vợ hoặc chồng của mình, nếu vợ hoặc chồng mất thì lúc đó mới chia đều cho con cái, nếu con cái mất thì đến cháu nội, cháu ngoại hoặc ba mẹ, anh chi em của mình. Lý do để hết 100% lại cho vợ hoặc chồng cũng dễ hiểu thôi: (i) vì như đã nói trên, các gia đình Việt Nam thường đúng chung tên bất động sản theo diện joint tenants, nên không thể làm khác hơn được ngoại trừ việc chuyển hóa (convert) sang dạng tenants in common. Lý do thứ 2, quan trọng hơn đó là người Việt chúng ta thường có một niềm tin rất vững và chính đáng đó là ba mẹ thường lúc nào cũng hy sinh cho con cái, nước mắt bao giờ cũng chảy xuôi nên khi giao hết tài sản cho vợ hoặc chồng, người ra đi vẫn có thể an tâm rằng vợ hoặc chồng mình sẽ giữ những tài sản đó cho con cái mình và chỉ có vậy thôi. Đây là giá trị văn hóa Việt rất đáng tự hào và nên được gìn giữ.
Việc thay đổi di chúc không có giới hạn, có nghĩa là quý vị có thể thay đổi bao nhiêu lần cũng được. Làm di chúc hôm nay, mai thay đổi vẫn không sao, cái mới nhất sẽ là cái có giá trị về luật pháp, đặc biệt là quý vị không cần phải đưa ra lý do tại sao mình muốn thay đổi di chúc. Khi hoàn cảnh gia đình thay đổi, quý vị nên liên hệ với luật sư của mình để yêu cầu thay đổi di chúc cho phù hợp với hoàn cảnh mới.
Mỗi văn phòng luật sư đều có cách làm việc và giử thân chủ theo cách riêng của họ. Một số lớn trường hợp mất di chúc xãy ra khi một văn phòng luật sư thay đổi địa chỉ làm việc hoặc bán lại cho một luật sư khác hoặc đóng cửa vì một số ly do nào đó.
Chúng tôi nhận thấy là không cần thiết phải giử di chúc của thân chủ tại văn phòng như là một hình thức ràng buộc ‘gián tiếp và nhẹ nhàng’ để người thân của quý vị sau này đến tìm chúng tôi. Ngoại trừ những trường hợp hết sức đặc biệt, chúng tôi thường yêu cầu thân chủ giử di chúc của mình tại nhà hoặc có thể tự mang đến gởi ở ngân hàng hoặc một nơi nào đó. Người thân của quý vị, trong quá trình thực thi vai trò của mình không nhất thiết phải nhờ cùng văn phòng luật sư nơi quý vị làm di chúc. Họ cũng có thể tự lo hết mọi thủ tục [khá đơn giản] mà không cần phải nhờ đến luật sư. Điều quan trọng là quý vị nên cho người điều hành biết rõ nơi quý vị cất giấu hoặc gởi di chúc của mình.
Như đã trình bày sở ở phần trên, dù không có tên trong di chúc người thân của quý vị vẫn có quyền xin chia phần theo điều khoản số 6 của đạo luật thừa kế gia đình Inheritance (Family Provisions) Act 1972. Thủ tục này rất phức tạp và tốn kém vì chỉ có Tòa Án Tối Cao Nam Úc (Supreme Court of South Australia) mới có quyền hạn (jurisdiction) để xử những vụ kiện tụng kiểu này. Chúng tôi lúc nào cũng khuyên thân chủ mình mỗi bên nên chịu thiệt thòi một ít, nhường nhịn nhau để cùng giải quyết việc tranh chấp mà không cần phải tranh tụng trước tòa, nếu không sẽ tốn kém rất nhiều án phí cho cá nhân mình và người thân của mình.
Trên đây là những thông tin luật pháp có tính cách tổng quát, muốn biết thêm chi tiết quý vị nên liên lạc với văn phòng chúng tôi qua số 08 8345 5888.
Ls Mai Thành Đức
ducmai@ducmai.com.au