Ngôn Ngữ:
Xin Chào Qúy Vị...
Luật Sư Toà Án Tối Cao Liên Bang Úc
Luật Sư Di Trú
Công Chứng Viên Quốc Tế

Phải Làm Gì Khi Bị Cảnh Sát Bắt


Trong bài viết tuần này, chúng tôi xin đề cập đến những quyền lợi và trách nhiệm luật pháp căn bản mà quý vị cần biết để áp dụng trong trường hợp bị cảnh sát bắt.

1. Trong Trường Hợp Nào Thì Tôi Có Thể Bị Cảnh Sát Bắt?

Chiếu theo đạo luật Summary Offences Act 1953 của Nam Úc thì cảnh sát có khá nhiều quyền hạn trong việc bắt và truy tố người dân. Việc bắt bớ có thể xảy ra khi cảnh sát có bằng chứng là một người nào đó đã vi phạm tội hình sự (committed a criminal offence) hoặc sắp vi phạm một tội hình sự (about to commit a criminal offence) hoặc đang âm mưu vi phạm một tội hình sự (planning a criminal offence).

2. Khi Bị Cảnh Sát Chặn Hỏi, Tôi Phải Làm Gì?

Việc bị cảnh sát chặn lại hỏi một vài câu hỏi khi họ có lý do nghi ngờ chính đáng không có nghĩa là quý vị đã bị cảnh sát bắt. Trong nhưng trường hợp như vậy, quý vị nên bình tỉnh hỏi rõ nhân viên cảnh sát liên hệ rằng: tại sao quý vị lại là người bị chặn hỏi mà không phải là những người khác; có phải vì quý vị là người Á Châu không? Nếu cảnh sát ú ớ không trả lời rõ ràng thì quý vị nên hỏi ngay rằng có phải quý vị đã bị bắt không (Am I under arrest?) Nếu có thì xin cho biết lý do. Nếu không thì quý vị không cần phải ‘tiếp chuyện’ với nhân viên cảnh sát đó.

3. Khi Bị Cảnh Sát Bắt, Tôi Phải Làm Gì?

Khi bị cảnh sát cho biết là quý vị đã bị bắt (you are under arrest), quý vị nên hết sức bình tỉnh và cẩn thận trong từng câu nói, từng hành động hay cử chỉ biểu hiện của mình. Điều quan trọng mà quý vị cần biết ngay khi vừa bị bắt là: Sự hợp tác cần thiết và thực thi quyền pháp định của mình. Sự hợp tác ở đây có nghĩa là quý vị không chống đối (resist) hoặc cản trở (hinder) sự bắt bớ của cảnh sát. Bởi lẽ, nếu làm như vậy, quý vị sẽ bị gán ghép thêm tội vị phạm điều khoản 6(2) của Đạo Luật Summary Offences Act 1953 và có thể bị phạt tối đa là $2,500.00 hoặc 6 tháng tù.

Khi bị bắt quý vị nên thực thi các quyền pháp định của mình đó là quyền được làm thinh (right to remain silient) [tuy nhiên quý vị cũng cần cho cảnh sát biết tên và địa chỉ chính xác của mình]; quyền được thông báo người thân về việc mình bị bắt; quyền được nhờ luật sư can thiệp và quyền được có thông dịch viên giúp đở khi gặp khó khăn về ngôn ngữ. Trong công việc hàng ngày, chúng tôi cũng thường có những cú điện thoại của thân chủ gọi từ đồn cảnh sát tỏ vẽ rất lo ngại và cần được cố vấn luật pháp gấp. Trong những trường hợp như vậy, sau khi vắn tắt những điểm chính với thân chủ, chúng tôi yêu cầu được nói chuyện trực tiếp với nhân viên cảnh sát liên hệ để nêu lên những điểm sau đây: (i) tại sao thân chủ chúng tôi bị bắt; (ii) việc bắt bớ dựa trên cơ sở bằng chứng nào; (iii) thân chủ chúng tôi không muốn trả lời thêm bất cứ câu hỏi nào của quý vị trong lúc này nên yêu cầu quý vị không tìm cách moi thông tin từ thân chủ chúng tôi; (iv) quý vị có ý định buộc tội (charge) thân chủ chúng tôi không và nếu có (v) thân chủ chúng tôi có ý định xin tại ngoại hậu tra (bail), quý vị có từ chối không v.v Sau đó chúng tôi yêu cầu nói chuyện lại với thân chủ để xác nhận những điều trên và một khi đã hài lòng là thân chủ đã hiểu rõ quyền pháp định của họ và sẽ không nói gì thêm với cảnh sát thì mọi việc coi như tạm ổn. Sau khi được tại ngoại hậu tra, thân chủ thường liên hệ gấp với chúng tôi để cung cấp lời khai và chuẩn bị hồ sơ cho phiên tòa kế tới.

4. Trong trường hợp nào thì Đơn Xin Tại Ngọai Hậu Tra (Bail Application) của tôi bị từ chối?

Điều khoản số 10 của Đạo Luật Bail Act 1985 quy định rõ những trường hợp nào tòa án hoặc cảnh sát có thể suy xét để từ chối Đơn Xin Tại Ngọai Hậu Tra của quý vị. Dưới đây là một vài lý do điển hình mà tòa án hoặc cảnh sát thường dựa vào:

(i) Mức độ nghiêm trọng của tội phạm (the gravity of the offence);

(ii) Nguy cơ bỏ trốn (likelihood to abscond);

(iii) Nguy cơ tái phạm (likelihood to re-offend);

Trong trường hợp bị cảnh sát từ chối bail, quý vị sẽ được sắp xếp để ra tòa trong thời gian sớm nhất có thể được ngõ hầu có thể xin bail trực tiếp với Tòa Án.

Thông thường, ngọai trừ những tội hình khá nghiêm trọng, Tòa Án thường có khuynh hướng cho bị cáo Tại Ngoại Hậu Tra. Tuy nhiên, nếu Đơn Xin Tại Ngoại Hậu Tra của quý vị bị từ chối, quý vị vẫn có hai sự chọn lựa:

i) Chấp nhận bị câu lưu (remanded in custody) để chờ ngày ra tòa; hoặc

ii) Kháng cáo lên Tòa Án cao hơn về quyết định từ chối bail của Tòa Án Sơ Thẩm (Magistrates Court).

5. Nếu Tôi Quyết Định Chọn Giải Pháp ‘Làm Thinh’, Tôi Có Gặp Những Bất Lợi Gì Sau Này Không?

Chắc chắn là không, vì ý định của luật pháp là giúp bảo vệ những người dân vô tội. Trước pháp luật, mọi người đều được đối xử bằng nhau và luôn được coi là vô tội cho đến khi nào bị tòa án hoặc bồi thẩm đoàn phán quyết là có tội (presumed innocent until proven guilty). Việc quý vị giữ thái độ im lặng theo lời khuyên từ luật sư của quý vị không có nghĩa là quý vị bất hợp tác với cảnh sát. Càng nói ít với cảnh sát, quý vị càng làm cho việc biện hộ (defence) của luật sư mình càng được dễ dàng hơn.

6. Thường Thường Thì Một Phiên Xử Kéo Dài Khoảng Bao Lâu?

Câu hỏi này tùy thuộc rất nhiều về mức độ nghiêm trọng của mỗi tội trạng. Một vụ án giết người (murder), hoặc cướp có vũ khí (armed robbery) thường sẽ kéo dài lâu hơn so với những tội trạng khác, chẳng hạn như ăn cắp (larceny) hoặc lái xe khi đã bị mất bằng (driving whilst being disqualified).

Những phiên tòa sơ thẩm thường rất ngắn vì đây không phải là những phiên sử quyết định quý vị có tội hay không có tội. Mục đích của những phiên sơ thẩm này là để giúp cho phía Công Tố (Prosecution) và Luật Sư Biện Hộ (Defense Lawyer) thương lượng (Plea Bargaining) để tìm một giải pháp hợp lý vàít tốn kém nhất cho hai bên mà không cần phải tốn nhiều thời gian của Tòa Án. Tuy nhiên, nếu việc thương lượng không thành, Tòa Án sẽ định một phiên sử chính thức (Trial) kéo dài từ 1-5 ngày hoặc lâu hơn tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm và số người được mời ra làm chứng.

7. Vậy Trong Phiên Sử Trách Nhiệm Chứng Minh Tội Phạm (Burden Of Proof) Thuộc Về Ai?

Khác với những nước mà hệ thống luật pháp chỉ tòan những luật rừng như ở Việt Nam, nơi mà những người dân vô tội khi bị bắt phải chứng minh rằng mình vô tội thì mới được phóng thích, tại Úc, trách nhiệm chứng minh thuộc về phía Công Tố. Điều này có nghĩa rằng, trước vàngay trong phiên xử, bị cáo luôn được coi là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội. Điều này cho thấy rằng luật pháp Úc được xây dựng trên nền tảng tôn trọng nhân quyền và loại bỏ được hệ quả nghiêm trọng từ việc giam cầm một người vô tội so với việc thả lầm một người có tội.

8. Vậy Phía Công Tố Dựa Trên Căn Bản Thước Đo Bằng Chứng Nào (Standard of Proof) Nào Để Buộc Tội Bị Cáo?

Khác với những vụ tranh chấp về dân sự (civil litigation), khi mà phía đương đơn (plaintiff) chỉ cần chứng minh rằng mình đúng từ 51% trở lên (balance of probabilities) thì họ có thể thắng được vụ kiện, trong khi đó, ở các vụ án hình sự phía Công Tố phải chứng minh trên căn bản không còn một sự nghi ngờ nào hết (beyond a reasonable doubt) rằng bị cáo đã vi phạm tội thì Tòa Án hoặc Bồi Thẩm Đoàn (Jury) mới có thể kết tội (convict) bị cáo được.

9. Vậy Bồi Thẩm Đoàn (Jury) Là Ai? Và Trong Phiên Tòa Nào Mới Có Bồi Thẩm Đoàn?

Trong khuôn khổ giới hạn của bài viết này, chúng tôi xin không bàn chi tiết về cơ cấu và trách nhiệm của bồi thẩm đoàn. Tuy nhiên, chúng tôi cũng xin tóm lược sơ rằng, bồi thẩm đoàn là một nhóm 12 người dân bình thường được chọn từ danh sách cử tri của các địa hạt trong tiểu bang. Khác với một số các tiểu bang khác, tại Nam Úc, bồi thẩm đoàn chỉ được xử dụng trong các phiên xử hình sự và đặc biệt giới hạn trong các tội hình nghiêm trọng được xử ở Tòa Án Trung Thẩm (District Court) hoặc Tòa Thượng Thẩm (Supreme Court) mà thôi (Điều khỏan 6 của Đạo Luật Juries Act 1927). Vai trò của bồi thẩm đoàn rất quan trọng và có tính chất quyết định việc bị cáo có tội hay vô tội. Trong các phiên xử có bồi thẩm đoàn, vai trò của vị chánh án (presiding judge) được thu gọn trong phạm vi (i) hướng dẫn bồi thẩm đoàn cách suy xét các bằng chứng liên hệ và loại bỏ những bằng chứng không liên hệ hoặc không được tòa chấp nhận (inadmissible evidence), và(ii) tuyên án (sentencing) một khi bị cáo đã bị bồi thẩm đoàn kết tội.

10. Tôi Có Thể Kháng Cáo Lại Quyết Định Của Tòa Án Được Không?

Khi cảm thấy mình bị kết tội một cách oan uổng hoặc nhận thấy mức độ hình phạt áp đặt bởi tòa án dưới một cách quá đáng, quý vị có thể tiến hành thủ tục xin kháng cáo lên tòa án cao hơn. Tuy nhiên, vì tính phức tạp của thủ tục kháng cáo, chúng tôi đề nghị quý vị nên tham khảo với luật sư của mình để được cố vấn cặn kẽ trong lãnh vực này.

Trong tương lai, chúng tôi hy vọng sẽ có dịp chia sẽ cùng quý đồng hương về vị trí và chức năng của mỗi tòa án tại Nam Úc trong đó gồm có các tòa án tiểu bang (state courts) chẳng hạn như Tòa Án Sơ Thẩm (Magistrates Court); Tòa Án Trung Thẩm (District Court of South Australia); Toà Án Thượng Thẩm (Supreme Court of South Australia); Tòa Án Bồi Thường Lao Động (Workers Compensation Tribunal) v.v và các tòa án liên bang (federal courts) chẳng hạn như Tòa Án Tái Xét Di Trú (Migration Review Tribunal); Tòa Kháng Cáo Hành Chính (Administrative Appeals Tribunal); Tòa Kháng Cáo An Xinh Xã Hội (Social Security Appeals Tribunal); Tòa Án Liên Bang (Federal Court of Australia); Tòa Án Gia Đình (Family Court of Australia) và Tối Cao Pháp Viện (High Court of Australia).

Trên đây là những thông tin luật pháp có tính cách tổng quát, muốn biết thêm chi tiết quý vị nên liên lạc trực tiếp với luật sư của mình hoặc với văn phòng chúng tôi qua số 08 8345 5888.

19/09/2006

Ls Mai Thành Đức

ducmai@ducmai.com.au

Văn Phòng Chính tại Adelaide
205 Hanson Road
Athol Park SA 5012
Tel. 08 8345 5888
Fax. 08 8347 0877

Văn Phòng Chi Nhánh tại Docklands Melbourne
Suite 101, Level 1, 198 Harbour Esp
Docklands VIC 3008
Tel. 03 9600 3959
Fax. 03 9600 1501


Địa Chỉ Bưu Tín
PO Box 149
Kilkenny SA 5009

Email
admin@ducmai.com.au

Trang Đầu | Bài Vở | Liên Lạc | Nối Kết | Thông Báo | Sơ Đồ Web