Trong loạt bài này chúng tôi sẽ trình bày về sự liên hệ giữa cơ quan WorkCover, chủ nhân (employer) và công nhân (employee) cũng như các điều khoản quan trọng của Đạo Luật Bồi Thường & Phục Hồi Năng Lực Công Nhân (Workers Rehabilitation and Compensation Act 1986) được chính phủ tiểu bang Nam Úc ban hành ngày 24 tháng 12 năm 1986.
An toàn lao động luôn là đòi hỏi nghiêm khắc mà chính phủ muốn các chủ nhân phải tuân theo để giảm thiểu những tai nạn chết người hoặc bị thương nơi làm việc. Tuy chính phủ đã đề ra những hình phạt nặng nề cho những trường hợp vi phạm luật an toàn lao động, một số không nhỏ những chủ nhân, vì quyền lợi kinh tế, đã tiết kiệm tối đa trong việc cung cấp thiết bị lao động an toàn cho công nhân nơi làm việc và hậu quả là gây ra những tai nạn đáng tiếc cho công nhân của mình.
Theo luật hiện hành, trừ các trường hợp ngoại lệ, hầu hết các chủ nhân tại Nam Úc đều phải đóng bảo hiểm hằng năm (WorkCover levy) cho các công nhân của mình. Các chủ nhân nào có được hệ thống làm việc an toàn và ít tai nạn xảy ra thì sẽ được hưởng mức bảo hiểm thấp hơn. Một số các công ty có tầm cở chẳng hạn như Holden, Electrolux, Inghams v.v được quyền chọn phương thức tự thành lập qủy bảo hiểm (self-insured) để bồi thường hoặc giúp phục hồi những công nhân bị thương.
Khi có công nhân bị thương tại nơi làm việc, chủ nhân có trách nhiệm báo gấp với cơ quan WorkCover. Có nhiều chủ nhân đã bị phạt nặng vì cố tình che dấu tai nạn và đe dọa đuổi việc công nhân nếu họ khai báo với WorkCover.
Cơ quan WorkCover được thành lập bởi đạo luật WorkCover Corporation Act 1994 để điều hành việc bồi thường và các vấn đề liên hệ đến trách nhiệm và quyền lợi của chủ nhân và công nhân. Để có thể thực hiện được điều này một cách chu đáo, WorkCover đã bổ nhiệm hảng bảo hiểm Employers Mutual Limited (EML) đứng ra trực tiếp quản lý và bồi thường các trường hợp công nhân bị thương. Tuy nhiên, việc các quyết định chính vẫn nằm trong tay của cơ quan WorkCover.
a. Nơi làm việc an toàn:
Như đã được định rõ trong Đạo Luật An Toàn Sức Khỏe và Phúc Lợi nơi làm việc (Occupational Health, Safety and Welfare Act 1986), chủ nhân phải bảo đảm an toàn nơi làm việc cho công nhân. Điều khoản 19 của Đạo Luật này áp đặt một số trách nhiệm tương đối khắc khe lên các chủ nhân chẳng hạn như phải duy trì môi trường làm việc an toàn cho các công nhân.
Dưới hệ thống bồi thường thông luật (common law damages), chủ nhân không chịu trách nhiệm bồi thường nếu tai nạn xảy ra là do lỗi hay sự bất cẩn của đồng nghiệp (principle of common employment). Ngày nay khái niệm đó đã không còn áp dụng tại Nam Úc cũng như tại các tiểu bang khác.
Trước đây, để được bồi thường công nhân bị thương phải chứng minh rằng tai nạn đó có liên quan đến công việc và phải xảy ra ngay trong lúc làm việc (arising out and in the course of employment). Điều này đã gây trở ngại không ít cho một số lớn các công nhân bị thương mà mức độ trầm trọng tích lũy theo thời gian công việc. Chẳng hạn như một công nhân đứng máy ép, phải liên tục bốc vật liệu nặng bỏ lên máy, công việc kéo dài năm này qua năm khác, một hôm thức dậy bổng nhiên thấy đau lâm râm ở cột sống, ráng bước ra xe để đi làm thì bị ngã qụy. Trong trường hợp này, công nhân bị thương không được bồi thường vì hai yếu tố công việc và nơi xảy ra tai nạn đòi hỏi rằng việc bị thương đó phải xảy ra đang trong lúc làm việc thì công nhân mới được bồi thường. Nhận thấy đây là những đòi hỏi gây nhiều khó khăn và thiệt thòi cho công nhân, nên chính phủ liên bang và tiểu bang, ngoại trừ Tasmania đã lần lượt tu chỉnh các điều khoản đó. Điều kiện ‘và’ nay được đổi thành ‘hoặc’ có nghĩa là tai nạn đó chỉ cần hoặc là liên quan đến công việc, hoặc là xảy ra đang trong lúc làm việc (arising out or in the course of employment) thì công nhân đó sẽ được bồi thường. Dưới Đạo Luật mới đang được áp dụng tại Nam Úc, trường hợp công nhân bị thương như đã nói trên chắc chắn sẽ được bồi thường nếu có bằng chứng y khoa xác nhận rằng bịnh trạng đó có liên quan đến công việc làm trước đây. Một ví dụ điễn hình cho trường hợp này là Stress/Anxiety claim. Một số không nhỏ những công bị thương ở lưng, vai hoặc ở cổ, tuy đang ở nhà điều trị, vẫn có thể nộp claim về bịnh trầm cảm (Depression hoặc Stress/Anxiety) do mức độ đau đớn thể xác gây nên.
b. Nếu tai nạn xảy ra do sự bất cẩn của tôi thì sao?
Đạo Luật nói trên đã quy định rõ ràng trách nhiệm của chủ nhân rằng không những phải cung cấp thiết bị an toàn cho công nhân chẳng hạn như kiếng an toàn, găng tay v.v mà phải còn có trách nhiệm theo dõi và bảo đảm rằng công nhân của mình có mang những thiết bị an toàn đó trong khi làm việc.
Nói chung là đa số các trường hợp công nhân bị thương tại nơi làm việc đều được bồi thường dù đó là lỗi của mình hay không, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt khi công nhân cố tình gây thương tích cho chính mình.
Nếu một công nhân cứ liên tục làm việc một cách bất cẩn không màng đến sự an toàn cho chính mình hoặc cho người khác thì chủ nhân có quyền đuổi việc người công nhân đó.
Trong vụ Grantham kiện công ty Broken Hill (Grantham v Broken Hill Proprietary Co Ltd [2000] SAWCT 21) Tòa Bồi Thường Thương Tích Lao Động Nam Úc (South Australian Workers Compensation Tribunal) phán quyết rằng hành động bất cẩn của đương đơn đã lập đi lập lại nhiều lần và cố ý vi phạm các điều lệ an toàn nơi làm việc và đương đơn đã không được bồi thường trong trường hợp đó.
Tuy nhiên nếu công nhân bị tử thương đang trong lúc làm việc, dù là cố tình hay vô tình với những bất cẩn đó thì người thân của công nhân vẫn sẽ được bồi thường (Điều khoản 30B(3) của Đạo Luật).
c. Công nhân phải làm gì ngay sau khi bị thương?
Một khi tai nạn xảy ra dù ở nơi làm việc hay ở nhà, công nhân nên báo gấp với chủ nhân hoặc đại diện của họ càng sớm càng tốt. Chủ nhân sau đó có trách nhiệm báo cho WorkCover để mở hồ sơ bồi thường cho công nhân bị thương. Thời hạn luật định cho việc xin bồi thường (claim) là 6 tháng, và trong một số trường hợp đặc biệt có thể kéo dài đến vài năm nếu công nhân bị thương có thể chứng minh được rằng họ vô tình không biết về quyền được bồi thường của mình (điều 52). Tuy nhiên để trách những tranh chấp không cần thiết sau này, quý vị không nên chậm trể trong việc nộp đơn xin bồi thường. Nếu không nộp đơn xin bồi thường, qúy vị sẽ không được bồi hoàn chi phí chửa trị y khoa.
Cũng xin nhấn mạnh ở đây là việc khai báo mình bị thương theo luật định không bị ảnh hưởng đến tương lai công việc của mình với chủ nhân, do vậy công nhân không bao giờ phải lo sợ là sẽ bị chủ nhân trả thù vì Đạo Luật nói trên không cho phép họ làm như vậy. Trong thời gian bị thương, công nhân được quyền chửa trị y khoa hoàn toàn miễn phí (điều 32) và được trả lương đều đặn hằng tuần (điều 35). Nếu thương tật kéo dài hơn một năm thì mức lương hằng tuần của người công nhân bị thương đó sẽ giảm xuống còn 80%. Ngoài tiền lương hàng tuần, công nhân bị thương còn được lãnh tiền bồi thường đau đớn (điều 43) và số tiền này tùy thuộc vào sự thẩm định của các chuyên khoa về mức độ phần trăm thương tích của công nhân.
Một khi công nhân đã hồi phục và có thể trở lại làm việc theo sự xác nhận của bác sĩ điều trị, chủ nhân phải đồng ý cho công nhân đó trở lại công việc củ hoặc công việc nhẹ theo đề nghị của bác sĩ (modified duties). Chủ nhân không được quyền gây khó khăn hay tạo những áp lực để công nhân tự nghĩ việc. Trong nhiều trường hợp công nhân tự ý nghĩ việc vì tức giận hoặc bị áp lực của chủ nhân, họ vẫn được bồi thường.
Điều khoản này quy định rằng cơ quan WorkCover hay các chủ nhân tự bảo hiểm phải chịu hoàn toàn chi phí y khoa cho công nhân bị thương trong suốt thời gian chửa trị với điều kiện là những chi phí đó có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tình trạng thương tật của công nhân. Các chi phí chửa trị y khoa gồm có:
* chi phí y khoa (the cost of medical services); * chi phí bịnh viện, giải phẩu, điều dưỡng (the cost of hospitalisation and all associated medical, surgical and nursing services); * chi phí trị liệu phục hồi năng lực, chẳng hạn như vật lý trị liệu physiotherapy hoặc hydrotherapy (the cost of approved rehabilitation); * chi phí di chuyển đến phòng mạch bác sĩ, bịnh viện, hoặc nơi cung cấp các dịch vụ trị liệu (the cost of travelling, or being transported, to and from any place for the purpose of receiving medical services, hospitalisation or approved rehabilitation); * chi phí chổ ở trong trường hợp công nhân bị thương cần phải đưa đi nơi khác để chửa trị (where it is necessary for the worker to be accommodated away from home for the purpose of receiving medical services or approved rehabilitation-the cost of such accommodation); * chi phí y tá hoặc các dịch vụ chăm sóc tại nhà ( the cost of attendance by a registered or enrolled nurse, or by some other person approved by the Corporation or of a class approved by the Corporation, where the disability is such that the worker must have nursing or personal attendance); * chi phí dụng cụ y khoa - chẳng hạn như xe lăng, gậy v.v (the cost of the provision, maintenance, replacement or repair of therapeutic appliances); * chi phí thuốc men (the cost of medicines and other material purchased on the prescription or recommendation of a medical expert); * và các chi phí khác nếu được WorkCover chấp nhận (any other costs (or classes of costs) authorised by the Corporation).
Bên trên là danh sách các chi phí y khoa thông thường mà WorkCover hay chủ nhân tự bảo hiểm phải trang trải cho các công nhân bị thương. Trong các trường hợp với lý do chính đáng, công nhân bị thương không muốn xử dụng taxi để đến nơi chửa trị, họ có thể dùng xe riêng và vẫn được trả lại chi phí cho việc di chuyển đó.
Điểu khoản 35 của Đạo Luật quy định rằng công nhân bị thương phải được trả lương hằng tuần đầy đủ trong suốt thời gian họ bị mất khả năng làm việc. Trong trường hợp các công nhân bị thương nhẹ và vẫn có thể làm việc được một số giờ giới hạn theo chứng nhận y khoa của bác sĩ điều trị, các công nhân này vẫn được trả lương hằng tuần đầy đủ bằng số lương đã nhận được trước khi bị thương.
Nếu thời gian thương tật kéo dài hơn 1 năm thì số lương hằng tuần của các công nhân bị thương sẽ giảm xuống còn 80% số lương bình thường trước khi bị thương.
Lương bổng hằng tuần của công nhân bị thương chỉ có thể bị ngưng trong những trường hợp sau đây:
* có sự đồng ý của công nhân (the worker consents to the discontinuance of weekly payments); or * có giấy của bác sĩ xác nhận rằng công nhân không còn bị thương nữa; (the Corporation is satisfied, on the basis of a certificate of a recognised medical expert, that the worker has ceased to be incapacitated for work by the compensable disability): or * công nhân bị thương đã trở lại công việc (the worker has returned to work); or * Công nhân bị thương đã tìm được việc làm tại một nơi khác hoặc tự làm và được trả lương bằng hoặc cao hơn mức lương trước khi bị thương (the worker has obtained work as an employee, or as a self-employed contractor, that is providing remuneration equal to or above the worker’s notional weekly earnings); or * công nhân bị đuổi việc vì hành vi không tốt (the worker is dismissed from employment for serious and wilful misconduct); or * công nhân vi phạm trách nhiệm hỗ tương (the worker breaches the obligation of mutuality); or * công nhân rời khỏi tiểu bang mà không có sự đồng ý của WorkCover và ở ngoài tiểu bang hơn 2 tháng trong 12 tháng liên tục (the worker is, without the Corporation’s consent- (i) resident outside the State; or (ii) absent from the State for more than two months in any continuous period of 12 months; or * việc ngưng trả lương hằng tuần được ủy nhiệm bởi các điều khoản khác của Đạo Luật (the discontinuance of weekly payments is authorised or required by some other provision of this Act).
’Trách nhiệm hỗ tương’ được hiểu theo ý nghĩa của điều khoản 36(1)(a) gồm các việc như: gặp bác sĩ theo yêu cầu của WorkCover; cung cấp cho WorkCover giấy chứng nhận thương tật của bác sĩ điều trị; tham gia các chương trình phục hồi (rehabilitation program), tham gia chương trình trở lại làm việc (return to work plan) v.v...
Điều khoản này quy định rằng cơ quan WorkCover hay các chủ nhân tự bảo hiểm (exempted employer) có thể thương lượng để bồi thường một lần dứt điểm (lump sum payment) cho công nhân bị thương. Việc bồi thường này gồm có lương hằng tuần, chi phí y khoa, và việc mất khả năng làm việc một phần hay toàn phần trong tương lai. Số tiền bồi thường được nhiều hay ít tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau chẳng hạn như tình trạng thương tích, tuổi tác, lương bổng hằng tuần trước khi bị thương v.v..
Điều khoản này quy định rằng một khi thương tích của công nhân là do công việc trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra thì họ sẽ được bồi thường theo tỉ lệ phần trăm được ghi rõ trong Schedule 3 của Đạo Luật. Nếu một công nhân bị tai nạn trong năm 2005 và mù cả hai mắt thì được coi như là tàn phế toàn phần và sẽ được bồi thường 100% số tiền luật định (prescribed sum). Số tiền luật định cho năm 2005 là $127,200.00. Việc một công nhân được bồi thường nhiều hay ít tùy thuộc vào nhiều yếu tố quan trọng sau đây:
* phần thân thể bị thương: Nếu mất một cánh tay (below elbow) thì được 80% số tiền luật định, trong khi đó nếu vai bị hư hại toàn phần thì chỉ được 50% số tiền luật định. * thời gian bị thương: cùng một thương tích nhưng nếu xảy ra trong năm 2006 sẽ được bồi thường nhiều hơn là năm 2005. * việc thẩm định của bác sĩ chuyên khoa (specialist): thường thường bác sĩ chuyên khoa do WorkCover chỉ định sẽ có những nhận định về mức độ thương tật thấp hơn là những bác sĩ do luật sư hoặc bác sĩ gia đình (GP) giới thiệu. Công nhân bị thương cần biết sự khác biệt này để có thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách đúng mức.
Điều khoản này áp dụng cho các trường hợp công nhân tử nạn trong lúc làm việc hoặc do công việc gián tiếp gây ra. Ngoài việc được hoàn trả tiền mai táng và các chi phí liên hệ, người phối ngẫu sẽ được bồi thường 1.675 lần số tiền luật định như đã đề cập ở phần trên.
Trong trường hợp công nhân tử nạn để lại người phối khẩu hoàn toàn phụ thuộc (total dependency), người phối ngẫu sẽ liên tục được chu cấp 50% số lương hằng tuần của người tử nạn. Nếu người phối ngẫu chỉ phụ thuộc một phần vào người chồng hoặc vợ trước khi tử nạn thì số tiền được lãnh hằng tuần sẽ được định đoạt trên căn bản mức độ phụ thuộc. Việc bồi thường vẫn được áp dụng cho trường hợp con cái dưới tuổi trưởng thành hoặc đang còn đi học (nhưng phải dưới 26 tuổi) có cha mẹ bị tử nạn trong công việc.
Ngoài ra, thân nhân (ba mẹ, anh chị em v.v) của công nhân bị tự nạn vẫn có thể xin bồi thường nếu chứng minh được rằng họ đã phụ sống phụ thuộc vào nạn nhân trong một khoảng thời gian trước khi tai nạn xảy ra.
Điều khoản này quy rằng một khi công nhân đã được hồi phục và trở lại công việc, chủ nhân phải báo ngay cho cơ quan WorkCover biết. Chủ nhân cũng có trách nhiệm báo cho WorkCover những thay đổi về lương bổng hằng tuần của công nhân bị thương cũng như những thay đổi về công việc.
Trong khi đó, công nhân bị thương cũng có trách nhiệm phải báo cho chủ nhân biết trong vòng 14 ngày nếu họ bắt đầu làm việc cho một chủ nhân khác. Nếu vi phạm điều khoản này mà không có lý do chính đáng, công nhân bị thương sẽ bị phạt $1,000.00.
Điều khoản này bắt buộc các chủ nhân phải cung cấp công việc làm thích hợp cho các công nhân bị thương một khi họ đã hồi phục và trở lại công việc. Đây là điều khoản rất quan trọng trong Đạo Luật giúp bảo vệ quyền lợi của các công nhân bị thương.
Qua công việc hằng ngày, chúng tôi nhận thấy có nhiều công nhân Việt Nam vì quá lo sợ bị chủ nhân trả thù bằng cách đuổi việc nên đã chấp nhận sự đau đớn mà không dám nộp đơn xin bồi thường để được trị bịnh. Chúng tôi xin nhấn mạnh rằng chủ nhân không được quyền đuổi việc công nhân bị thương và đặc biệt là không được trả thù bằng cách bắt ép họ làm những công việc trước đây họ không làm chẳng hạn như lượm rác, dọn vệ sinh v.v.
Trách nhiệm chứng minh nằm trên vai các chủ nhân nếu họ không thể tìm công việc thích hợp cho công nhân đã hồi phục và có khả năng trở lại công việc (the onus of establishing that lies in any legal proceedings on the employer).
Tóm lại, quyền lợi của công nhân bị thương tại Nam Úc luôn được pháp luật bảo vệ đúng mức. Điều quan trọng là công nhân bị thương phải luôn mạnh dạn thực thi quyền hạn của mình một cách hợp lý theo khuôn khổ luật định.
Trên đây là những thông tin luật pháp có tính cách tổng quát, muốn biết thêm chi tiết quỶ vị nên liên lạc trực tiếp với luật sư của mình hoặc với văn phòng chúng tôi qua số 08 8345 5888.
Ls Mai Thành Đức
ducmai@ducmai.com.au